X

Tính chỉ số BMI

Chiều cao: cm

Cân nặng : kg

Tính

Tiên phong trong chăm sóc phái đẹp

CÁC BỆNH LÝ PHỤ KHOA

VIÊM SINH DỤC

By on 24/04/2016

VIÊM SINH DỤC Ở PHỤ NỮ – (viêm âm đạo- âm hộ, viêm cổ tử cung, viêm vùng chậu)

ThS.BS Đặng Lê Dung Hạnh – BS.CKII Lê Kim Bá Liêm

   Cơ quan sinh dục của phụ nữ tính từ trong ra ngoài bao gồm: vòi trứng và buồng trứng, tử cung, âm đạo, âm hộ và vùng quanh âm hộ. Viêm sinh dục được chẩn đoán khi có hiện tượng viêm nhiễm trên bất kỳ bộ phận nào của cơ quan sinh dục và được chia làm 2 nhóm viêm sinh dục trên bao gồm phần trên cổ tử cung (tử cung, vòi trứng và buồng trứng) và viêm sinh dục dưới bao gồm cổ tử cung, âm đạo và âm hộ.

1

   Viêm sinh dục trên thường ít gặp, có thể gặp các triệu chứng toàn thân như nóng sốt, đau vùng bụng dưới và có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản nếu không điều trị thích hợp. Đa số các trường hợp là do nhiễm trùng, có khi nặng lên và tiến triển thành viêm phúc mạc (màng bụng) vùng chậu hay vùng bụng làm bụng căng cứng đau và có thể nhầm lẫn với tình trạng viêm phúc mạc do ruột thừa. Cũng có khi, tình trạng viêm nhiễm tiến triển thành bán cấp tạo thành khối áp xe vòi trứng (tụ mủ vòi trứng) hay mãn tính thành bệnh lý đau vùng chậu mãn tính (khi tình trạng đau kéo dài hơn 6 tháng). Trầm trọng hơn, có một dạng viêm nhiễm sinh dục trên (do Chlamydia) sẽ tiến triển âm thầm, không triệu chứng, nhưng gây viêm dính trong vùng bụng và là nguyên nhân chủ yếu của nhiều trường hợp vô sinh. Để ngăn ngừa viêm sinh dục trên và các biến chứng với khả năng sinh sản, cần tích cực tìm bệnh và điều trị phù hợp ngay khi có nghi ngờ viêm sinh dục trên, sử dụng thuốc thích hợp khi có nạo thai hay sảy thai (vì là cơ hội bị nhiễm bệnh qua thủ thuật,  lòng tử cung sau đó là môi trường thuận lợi cho mầm bệnh phát triển). Nạo phá thai nhiều lần cũng là yếu tố gia tăng nguy cơ viêm nhiễm.

2

Tu mủ vòi trứng.

Viêm sinh dục dưới, ngược lại là một tình trạng nhẹ nhàng hơn, thường ít để lại di chứng, bệnh dễ chữa nhưng cũng dễ bị nhiễm và dễ bị tái phát. Thường gặp nhất là viêm âm đạo do các tác nhân như nấm, vi trùng, trùng roi.Ngoại trừ bệnh nhiễm trùng roi xảy ra do lây qua quan hệ tình dục, các trường hợp còn lại đều có thể xảy ra trên người độc thân hay đã kết hôn, có hay không có quan hệ tình dục.

3

Viêm CTC.

Đa số các trường hợp viêm âm đạo sẽ có tình trạng huyết trắng gia tăng, có mùi và màu bất thường, gây khó chịu (ngứa, rát, nóng bỏng); có thể đi kèm với tình trạng nhiễm trùng đường tiểu dưới (tiểu gắt buốt, tiểu nhiều lần hay khó tiểu, tiểu đục, nước tiểu có mùi hôi hay lợn cợn). Có thể dùng các loại thuốc đặt âm đạo có kèm hay không kèm thuốc uống để điều trị. Vệ sinh phụ nữ thường ngày và trong giai đọan kinh nguyệt sẽ giúp ngăn ngừa tốt viêm sinh dục dưới.

4

5

Vùng da quanh âm hộ và hậu môn cũng có thể bị viêm nhiễm do cùng tác nhân với viêm âm hộ, âm đạo, hay là do các tác nhân nhiễm trùng trên da. Có thể gặp các trường hợp nhiễm trùng mụn mủ, nhiễm trùng nang lông, hắc lào hay nấm da. Tùy bệnh lý có thể dùng thuốc bôi tại chỗ có kèm thuốc uống hay không.

Có 2 bệnh lý khá đặc biệt: Herpes sinh dục biểu hiện bởi bóng nước xuất hiện trên vùng sinh dục, bóng nước vỡ và rất đau, lây lan rất nhanh, có thể kèm nóng sốt; Mồng gà âm hộ (có thể xuất hiện trên âm đạo và cổ tử cung) biểu hiện bởi các nốt sùi, phát triển nhanh và gây ngứa rát. Đây là bệnh lây qua đường tình dục. Viêm cổ tử cung, ở vùng cổ ngoài có thể xếp là viêm sinh dục dưới, ngược lại nếu xảy ra ở vùng cổ trong, có liên đới với niêm mạc lòng tử cung và có thể lây lan ngược dòng lên trên, do đó, được xem là viêm sinh dục trên. Vòng tránh thai, không gây ra tình trạng viêm nhiễm sinh dục, tuy nhiên khi nghi ngờ có viêm nhiễm sinh dục trên, nếu đang sử dụng vòng thì nên lấy vòng ra ngay và có điều trị tích cực kịp thời.

6

Mồng gà.

Tình trạng cổ tử cung lộ tuyến, không được xem là viêm nhiễm cổ tử cung. Tuy nhiên vùng lộ tuyến thường có nhiều tế bào non, yếu ớt trước những tác nhân gây bệnh qua đường tình dục, cũng như tình trạng tăng tiết dịch cổ tử cung khi có lộ tuyến sẽ làm gia tăng khả năng viêm âm đạo (do thay đổi môi trường âm đạo) cũng như làm người phụ nữ khó chịu.

7

CTC lộ tuyến.

Một số bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể gây viêm nhiễm sinh dục, thường là viêm đường sinh dục trên (có thể kết hợp viêm sinh dục dưới), như bệnh lậu, giang mai, bệnh hạ cam mềm – hột xòai, hạch sinh dục, nhiễm trùng roi (Trichomonas), u nhú sinh dục … Trong trường hợp này cần điều trị kết hợp cả người chồng/bạn tình để tránh lây nhiễm ngược lại.

8

Trùng roi.

   Tóm lại không nên chủ quan với tình trạng viêm nhiễm sinh dục do khả năng để lại hậu quả trên khả năng sinh sản của tình trạng viêm sinh dục trên hay khả năng dễ tái phát, tái nhiễm của bệnh lý viêm sinh dục dưới.

LỘ TUYẾN CỔ TỬ CUNG

By on 24/04/2016

Hiểu đúng về “Lộ tuyến cổ tử cung” – Cervical Ectropion

“Lộ tuyến cổ tử cung” là từ ai cũng nghe qua một lần trong đời và là một vấn đề mà các chị em phụ nữ đi khám phụ khoa hay đặt ra. Nhưng để nhận định vấn đề này cho đúng thật là khó.

Cơ quan này lại ít ai có thể thấy “thực” được một lần trong đời. Vậy mô tả sao cho nhiều người hiểu được đây!

CẤU TẠO CỦA CỔ TỬ CUNG

Cổ tử cung của người phụ nữ như một “bông hoa hồng” vậy.

Bên ngoài của cổ tử cung được lót bởi lớp tế bào láng, có màu hồng, tương tự như mặt ngoài cánh hoa.

Lổ cổ tử cung tương tự như là đỉnh của bông hoa, đó là nơi kinh nguyệt chảy ra hàng tháng.

Từ lổ cổ tử cung này có một ống dẫn vào bên trong “buồng tử cung”. Ống này gọi là “kênh cổ tử cung”, tương tự như ống tạo bởi mặt trong của các cánh hoa vậy. Ống này được lót bởi biểu mô tuyến, hơi sần sùi một chút, có màu hồng đậm hơn so với mặt ngoài của cổ tử cung, dễ chảy máu khi chạm vào.

Lộ tuyến cổ tử cung là khi biểu mô tuyến ở trong ống “kênh cổ tử cung” bị “lộ” ra bên bề mặt ngoài của cổ tử cung, Điều này có thể ví như hoa hồng nở, ta có thể thấy được bên trong của cánh hoa vậy. Khi khám cổ tử cung sẽ thấy hình ảnh vùng gần cổ tử cung có màu hồng đậm hơn so với vùng bên ngoài.

CÁC THAY ĐỔI SINH LÝ Ở CỔ TỬ CUNG

Lộ tuyến cổ tử cung là tình trạng sinh lý, bình thường, rất thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Đây là tình trạng thay đổi sinh lý theo sự thay đổi nồng độ nội tiết tố sinh dục nữ. Ở bé gái chưa dậy thì và người phụ nữ mãn kinh, hiếm khi có tình trạng lộ tuyến cổ tử cung.

  1. Cổ tử cung ở bé gái chưa dậy thì- Hoa hồng chưa nở

Ở bé gái chưa dậy thì, tương tự giống như hoa hồng chưa nở, các cánh hoa khép kín lại. Cổ tử cung của các bé gái nhỏ, và nếu phải khám phụ khoa vì một số trường hợp đặc biệt nào đó, sẽ thấy toàn bộ cổ tử cung có màu hồng nhạt.

  1. Cổ tử cung ở người phụ nữ trong tuổi sinh sản- Hoa hồng đang nở

 

Ở những người phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (từ khi dậy thì cho đến khi gần mãn kinh), do sự thay đổi nội tiết tố sinh sản, nhưng phụ nữ này sẽ có tình trạng lộ tuyến cổ tử cung. Lúc này, các biểu mô tuyến ở trong ống “kênh cổ tử cung sẽ “lộ” ra ở bên ngoài. Điều này tương tự như một bông hoa hồng đang nở, chúng ta có thể nhìn thấy phía bên trong của các cánh hoa. Tình trạng sinh lý này cũng sẽ thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt, theo thai kỳ, sử dụng thuốc tránh thai… (Khi có thai, tình trạng lộ tuyến cổ tử cung nhiều hơn. Sau sinh, tình trạng lộ tuyến cổ tử cung sẽ giảm dần).

  1. Cổ tử cung của người phụ nữ mãn kinh- Hoa hồng khô

Khi buồng trứng của người phụ nữ không còn hoạt động nữa, vùng biểu mô tuyến bị “lộ” ra bên ngoài ở cổ tử cung trong giai đoạn trước tuổi sinh sản, quay trở lại bên trong ống “kênh cổ tử cung”. Cổ tử cung của những phụ nữ tuổi mãn kinh lúc này sẽ nhỏ lại, có màu hồng nhạt và không có vùng mô tuyến màu hồng đậm gần lổ cổ tử cung. Điều này tương tự như các cánh hoa hồng sau một thời gian bị thiếu nước, khô đi, các cánh hoa úp vào bên trong trở lại.

LỘ TUYẾN CỔ TỬ CUNG CÓ THỂ GÂY RA KHÓ CHỊU GÌ?

Như trên đã mô tả, lộ tuyến cổ tử cung là sinh lý, hay gặp nên hầu hết các trường hợp không gây ra triệu chứng gì. Trong một số trường vùng lộ tuyến cổ tử cung quá rộng, người phụ nữ sẽ có tình trạng huyết trắng ra nhiều hoặc ra huyết khi quan hệ tình dục. Tình trạng này nếu lặp đi lặp lại nhiều lần, ảnh hưởng đến sinh hoạt của người phụ nữ thì có chỉ định hủy các mô lộ tuyến này sau khi thực hiện các xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung. Việc hủy các mô này có thể bằng laser, áp lạnh hoặc dùng nhiệt.

LỘ TUYẾN CỔ TỬ CUNG CÓ GÂY UNG THƯ KHÔNG

Lộ tuyến cổ tử cung không gây ung thư cổ tử cung.

Người phụ nữ có dù có lộ tuyến cổ tử cung hay không đều nên thực hiện tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ qua khảo sát tế bào cổ tử cung, xét nghiệm trùy tìm chủng loại HPV nguy cơ cao…

NHỮNG “HIỂU LẦM” CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC ĐẾN NHỮNG “NẠN NHÂN”

Với thời đại thông tin bùng nổ như ngày nay, việc người thầy thuốc tiếp cận thông tin chính thống không còn khó khăn nữa. Các hướng dẫn của các Hiệp hội hành nghề y khoa trong và ngoài nước đã giúp cho các thầy thuốc ở mọi miền của đất nước, trong nước cũng như ngoài nước đều có thể xem xét và áp dụng cho các bệnh nhân của mình.

Tuy nhiên, vì một số “lý do” nào đó, các Bác sĩ đã không áp dụng các kiến thức mới nhất, cập nhật nhất trong việc chẩn đoán và điều trị cho người bệnh của mình. Những “hiểu lầm” này có thể là thật và cũng có thể giả. “Hiểu lầm” giả có nghĩa là bản thân người thầy thuốc đã hiểu đúng nhưng vì muốn trục lợi đã tư vấn cho người bệnh những kiến thức sai.

Những “hiểu lầm” của thầy thuốc cho dù thật hay giả đều dẫn đến việc nhận thức lầm thật sự của người bệnh, làm cho người bệnh hoang mang và lo lắng. Những điều thầm kín, khó nói của người bệnh không được chia sẻ với những người thầy thuốc chuyên khoa mà lại chia sẻ với “Bác sĩ Google”. “Bác sĩ Google” rất tốt, tuy nhiên lại có thể được điều khiển được bởi “con người”. Thế là “Bác sĩ Google” dẫn người bệnh đến những địa chỉ trang web “lên top”. Người bệnh còn ngơ ngác chưa biết những điều thầm kín của mình được điều trị như thế nào thì liền được các “nhân viên y tế online” vào “thăm hỏi” và “hướng dẫn tận tình”. … Và cho đến khi người bệnh trở thành “nạn nhân” thì cũng không ai dám lên tiếng. Không lẽ nói cho mọi người biết mình bị những bệnh khó nói như “viêm âm đạo”, “viêm lộ tuyến cổ tử cung”, “huyết trắng có mùi hôi”, “yếu sinh lý”, “vô sinh”, “lậu”, “giang mai”…

BS chuyên khoa 2 Lưu Thị Thanh Loan

Bệnh viện Từ Dũ

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3031439/

 

U XƠ TỬ CUNG

By on 24/04/2016

U xơ tử cung – Trong quá trình mang thai có rất nhiều chị em mắc phải u xơ tử cung, bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới thai nhi. Cần tìm ra nguyên nhân gây u xơ tử cung. U hình thành từ các mô và sợi cơ ở tử cung, về cơ bản là u phát triển theo ảnh hưởng của estrogen và khá lành tính. Đây là căn bệnh phổ biến, gây nên nhiều khó khăn cho chị em ở độ tuổi sinh sản, mà chủ yếu là ở phụ nữ đã thai nghén 1 lần. U xơ tử cung rất dễ chữa trị nếu như phát hiện sớm. Tuy nhiên nếu để lâu và không được chữa trị đàng hoàng, các khối u sẽ phát triển và chèn ép lên các bộ phận khác, thậm chí có thể biến chứng khá nguy hiểm, thậm chí trở thành tác nhân gây tử vong cho chị em trong kì sinh nở.

tong-hop-nguyen-nhan-va-cach-dieu-tri-u-xo-tu-cung1 (1)

U xơ tử cung gây khá nhiều phiền phức cho chị em, đặc biệt là các chị em đang trong thai kì:

– U xơ chèn ép lên các bộ phận khác, gây đau đớn và cản trở quá trình sinh hoạt và tình dục. Đối với phụ nữ trong thai kì, u chèn ép lâu có thể gây dị dạng cho thai nhi.

– U xơ lâu ngày khiến nội mạc tử cung bị thay đổi, khó thụ tinh. Đi kèm là kinh nguyệt không đều, các chu trình kinh bị thay đổi

– Thai phụ có u xơ dễ có nguy cơ sinh non, băng huyết

– Gây táo bón, đường tiết niệu không tốt khiến người bệnh tiểu khó.

– Nếu u quá to, bệnh nhân có thể phải mổ và ngừng sinh con trong một khoảng thời gian dài, gây ảnh hưởng lên kế hoạch gia đình.

Nguyên nhân

Bệnh có nhiều nguyên nhân, trong đó có thể là:
– Quá trình sinh đẻ và nạo hút thai không sạch sẽ, còn vướng lại nhau thai hoặc dị vật gây kết mô tạo u.
– Sử dụng vòng tránh thai cũng làm tăng nguy cơ gây u xơ tử cung.
– Nội mạc cổ tử cung có điểm gợn, tạo u

Triệu chứng
– Đau bụng dưới, đặc biệt là vùng tử cung, đặc biệt là vào các kì kinh nguyệt.
– Cơn đau kéo dài khi quan hệ tình dục.
– Âm đạo chảy máu như rong kinh, kinh nguyệt rối loạn lâu dài.
– Với u to có thể sờ nắn thấy, sờ trúng sẽ thấy đau.
– Luôn thấy buồn tiểu do u ép vào bàng quang. Nếu u ép đến trực tràng, người bệnh có nguy cơ trĩ và táo bón.
– Khó thụ thai và lâu có con

Phân loại
U xơ thường có tính chất giống nhau, vậy nên chúng được phân theo vị trí và kích cỡ u:
– Theo vị trí có 3 loại: U ở mặt ngoài tử cung, dưới niêm mạc tử cung và nằm trong tử cung

tong-hop-nguyen-nhan-va-cach-dieu-tri-u-xo-tu-cung

– Theo kích cỡ: thông thường các bác sĩ hay dựa vào kích cỡ u để đưa ra các biện pháp điều trị phù hợp nhất. Đối với u xơ tử cung thường được chia 2 loại, đường kính lớn hơn 5cm và nhỏ hơn 5cm.

Kỹ thuật chuẩn đoán
– Siêu âm: Siêu âm để thấy được hình dáng và kích thước của u.
– Sinh thiết niêm mạc tử cung: bác sĩ trích một mô nhỏ tử cung và giải phẫu
– Nội soi tử cung: đưa camera nhỏ qua đường âm vào tử cung để quan sát bên trong.

Điều trị
Giống như đa số các bệnh phụ nữ khác, điều trị u xơ thường bằng 2 cách: nội khoa và phẫu thuật. Dựa vào kích thước và vị trí khối u, bác sĩ sẽ đưa ra các lời khuyên cho bệnh nhân.

Đối với u nhỏ hơn 5cm, biện pháp thường được chọn là dùng thuốc để tiệt tiêu u và đưa u ra qua đường âm đạo

Trường hợp u lớn hơn thì chủ yếu là phải cắt bỏ u bằng cách phẫu thuật tách u để tránh xâm hại tử cung. Trong trường hợp này nếu phụ nữ muốn sinh con phải đợi khoảng 3 năm. Với nhiều trường hợp khối u quá lớn, có thể sẽ phải mổ tử cung, nhiều trường hợp phải mổ nội soi bằng đường dưới. Tuy nhiên dù là sử dụng phương pháp nào, người bệnh đều cần tuân thủ theo chỉ dẫn của bác sĩ để tránh các trường hợp xấu xảy ra.

U xơ tử cung là căn bệnh hay gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh, vì vậy các chị em cần trang bị cho mình đầy đủ các kiến thức để sẵn sàng đối mặt và xử lí căn bệnh này.

U NANG BUỒNG TRỨNG

By on 24/04/2016

U nang buồng trứng là hiện tượng xuất hiện một tập hợp tế bào trên buồng trứng của phụ nữ trước hoặc trong kì mang thai. U nang buồng trứng thường phát sinh từ một nhóm bất kì trong cơ thể, thường là từ buồng trứng hoặc các cơ quan lân cận. Thông thường, loại u này khá lành tính, tuy nhiên trong nhiều trường hợp có thể phát sinh biến chứng, cần cắt bỏ hoặc có phương án xử lý trước khi u xâm hại tới cơ thể.

trieu-chung-cach-dieu-tri-u-nang-buong-trung

Trong số các bệnh phụ khoa thì u nang buồng trứng là loại bệnh thường gặp, chiếm khoảng gần 4% tỉ lệ. Thời gian đầu, u tăng trưởng chậm và không gây hại, nhưng khi phát sinh tác động ác tính thì u lại thể hiện triệu chứng rất nhanh. Chị em trong độ tuổi sinh sản cần quan sát và chú ý kĩ, trong trường hợp phát hiện u cần gặp bác sĩ để có phương án điều trị tốt, tránh để u phát triển thêm, biến chứng thành ung thư buồng trứng hoặc gây xoắn nang rất nguy hiểm cho khả năng sinh sản thậm chí là tính mạng của chị em.

U nang buồng trứng lành tính thì không có nhiều tác hại, chủ yếu u chỉ làm chậm quá trình sinh sản. Do các nang trứng dễ vướng phải u và bị trễ quá trình rụng. Tuy các khối u thường khá dị biệt, nhưng chúng cũng có một số đặc điểm chung như:

– Đối với u lành tính thì u chỉ xuất hiện trên một buồng trứng và tự vỡ hoặc teo sau vài tháng.
– Đường kính u không quá 7cm
– Trong trường hợp chưa vỡ và tổn thương, u sẽ giống như một cục dịch dính với nhau, không màu

Nguyên nhân

Bệnh chủ yếu đến từ các nguyên nhân sau:
– Các nang trứng khuyết tật, gặp vấn đề trong việc thu chất dinh dưỡng trong buồng trứng
– U nang xung huyết do mạch vỡ
– Do định lượng các hoocmon như Chorionic gonadotropin, Hocmone luteinzing quá cao, dẫn tới hình thành u nang lutein và ảnh hưởng xấu tới buồng trứng
– Thể vàng phát triển, kéo theo kinh nguyệt dài ngày.

Nguy cơ

Về cơ bản, dạng u này không phải là mối đe dọa, trừ trường hợp nó có biến đổi. Còn nếu không, u sẽ tự sinh ra cũng tự tiêu biến sau vài tháng, tuy nhiên u cũng có một số vấn đề gây phiền toái:
– U xuất hiện chiếm một phần diện tích nên ngăn cản quá trình sinh trưởng và giải phóng của nang trứng, do đó khi có u, quá trình thụ thai sẽ chậm lại.
– Vì trứng khó rụng nên kinh nghiệt cũng bị rối loạn, tuy nhiên chỉ sau vài tháng, hiện tượng này sẽ kết thúc.
– Thỉnh thoảng người bệnh sẽ phải chịu những cơn đau bụng bất chợt.
– Nếu khối u có lớn sẽ gây nguy cơ xoắn buồng trứng. Trường hợp này khá nguy hiểm, có thể ảnh hưởng tới tính mạng nên chị em nếu phát hiện cần trực tiếp điều trị ngay
– Khi u vỡ dễ làm tràn dịch ra buồng trứng gây viêm nhiễm.

Triệu chứng

Hầu hết u nang buồng trứng đều có biểu hiện không điển hình, tuy nhiên cũng có một số cách để bạn tự phát hiện u:
– Đau tức bụng, đôi khi là vùng thắt lưng và đùi
– Thường xuyên thấy đầy bụng

trieu-chung-va-cach-dieu-tri-u-nang-buong-trung1

– Tiểu khó, tiểu dắt
– Cơn đau nặng hơn khi quan hệ
– Thay đổi một vài chỉ số cơ thể, tăng cân không rõ lí do
– Đau ngực, đôi khi buồn nôn và nôn
– Rối loạn kinh nguyệt

Trong trường hợp u có biến chứng ác tính sẽ tạo nên các triệu chứng cấp độ nặng hơn và thậm chí là sốc tạm thời, ví dụ như đột ngột sốt và nôn mửa, kiệt sức và ngã khuỵu không rõ nguyên nhân.

Phân loại

Có nhiều cách để phân loại khối u:
– Theo nguyên nhân: thì các nhà khoa học hay xác định 2 loại u là u nang thực thể và u nang cơ năng. Trong đó u năng cơ năng được sinh ra do cơ chế điều tiết có nhiều biến đổi trong cơ thể, thường không nguy hiểm và tự mất đi. Còn u năng thực thể là loại u được cảnh báo nên xử lí bởi lẽ nó thường sinh ra bởi một bệnh lí khác đang nảy sinh trong cơ thể.

– Theo tính chất khối u: ví dụ như u chứa dịch hay đặc, tính chất của dịch của ảnh hưởng tới việc xác định loại u.

– Theo kích thước hay hình dạng khối u

– Theo bản chất lành hay ác tính: về cơ bản việc u ác hay lành không thể chắc chắn chỉ với việc siêu âm, chỉ có thể xác định ảnh hưởng của u dựa vào biểu hiện ra ngoài và thử nghiệm giải phẫu sau khi cắt đem ra ngoài.

Kỹ thuật chẩn đoán

Hiện nay, có 4 kĩ thuật chẩn đoán u nang buồng trứng:

– Siêu âm: Quá trình siêu âm chủ yếu để xác định vị trí, vẻ ngoài của khối u và một số biểu hiện cơ bản của u, kèm theo đó là ảnh hưởng của nó đối với buồng trứng và tử cung.
– XQ bụng không chuẩn bị
– Chụp TC, buồng trứng: về cơ bản kỹ thuật này chỉ để xác định độ an toàn của khối u, các phần phụ và buồng trứng.
– Nội soi ổ bụng: Nếu u quá lớn, siêu âm sẽ không thể rõ ràng phạm vi của nó, lúc đó cần nội soi ổ bụng. Về cơ bản phương pháp này tương tự với nội soi dạ dày, chụp lại ổ bụng bằng CT Scanner.

Điều trị

Đối với u lành tính thì u không cần chữa trị cũng sẽ tự tiêu biến. Tuy nhiên nếu trường hợp là loại u có khả năng biến chứng thì cần xử lí. Các phương pháp được sử dụng bao gồm nội khoa và ngoại khoa:

Về nội khoa, người bệnh sẽ được cấp thuốc thúc đẩy tu nhanh già để teo hoặc vỡ đi.

Về ngoại khoa, bác sĩ sẽ phải phẫu thuật cắt u, có thể là bóc tách bảo toàn buồng trứng hoặc cắt đi toàn bộ buồng trứng, tùy thuộc vào nguyện vọng của người bệnh. Bóc tách giúp giữ được khả năng sinh con nhưng lại dễ có nguy cơ tái phát bệnh. Vậy nên cũng có những trường hợp phụ nữ sau khi sinh đủ con chấp nhận cắt buồng trứng để đề phòng thêm bệnh.

Tuy nhiên về cơ bản, điều trị u nang buồng trứng dù là lành tính hay ác tính cũng gặp rất nhiều vấn đề, vậy nên thay vì suy nghĩ đến giải pháp, các chị em hãy hướng tới cách đề phòng căn bệnh này.

Nguồn :Bệnh viện Ung bướu

UNG THƯ NỘI MẠC TỬ CUNG

By on 22/04/2016

Ung thư nội mạc tử cung! Chảy máu sau mãn kinh, kéo dài thời gian hoặc chảy máu giữa kỳ kinh, chảy máu bất thường từ âm đạo, đau vùng chậu, đau khi giao hợp, giảm cân ngoài ý muốn…

Định nghĩa

Mặc dù việc chẩn đoán bệnh ung thư nội mạc tử cung là khó khăn, những tin tức tốt lành là loại ung thư này thường được tìm thấy ở giai đoạn sớm nhất của nó có thể điều trị.

Ung thư nội mạc tử cung, một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Mỹ, bắt đầu trong tế bào nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung, tử cung rỗng hình quả lê – cơ quan vùng chậu, nơi bào thai phát triển xảy ra. Ung thư nội mạc tử cung đôi khi được gọi là ung thư tử cung, nhưng cũng có những tế bào khác trong tử cung có thể trở thành ung thư, chẳng hạn như cơ hoặc các tế bào myometrial. Những hình thức loại ung thư ít phổ biến được gọi là sacôm.

Ung thư nội mạc tử cung thường được phát hiện ở giai đoạn đầu bởi vì nó thường xuyên tạo ra chảy máu âm đạo giữa chu kỳ kinh nguyệt hoặc sau khi mãn kinh. Nếu ung thư nội mạc tử cung được phát hiện sớm, loại bỏ tử cung bằng phẫu thuật thường loại bỏ tất cả của ung thư.

Các triệu chứng

Hầu hết các trường hợp ung thư nội mạc tử cung phát triển ở phụ nữ sau mãn kinh, thời kỳ đã dừng lại. Các đầu mối đầu tiên có thể bị chảy máu âm đạo bất thường.

Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư nội mạc tử cung có thể bao gồm:

  • Chảy máu bất thường sau mãn kinh.
  • Kéo dài thời gian hoặc chảy máu giữa chu kỳ.
  • Chảy máu bất thường từ âm đạo.
  • Đau vùng chậu.
  • Đau khi giao hợp.
  • Giảm cân ngoài ý muốn.

Gặp bác sĩ khi

Bởi vì ung thư nội mạc tử cung có nhiều khả năng được chữa khỏi, gặp bác sĩ nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của căn bệnh này, bao gồm chảy máu âm đạo không liên quan đến thời gian, đau vùng chậu hoặc đau khi giao hợp. Nhiều người trong số các triệu chứng tương tự có thể được kết hợp với không phải ung thư (lành tính), chẳng hạn như nhiễm trùng âm đạo, u xơ tử cung hoặc polyp tử cung. Nhưng nó rất quan trọng để mang đến sự chú ý của bác sĩ.

Nếu đang có nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, nói chuyện với bác sĩ về những gì có thể được xét nghiệm sàng lọc thích hợp. Nếu có bị ung thư nội mạc tử cung, bác sĩ nên phác thảo một chương trình theo dõi thường xuyên cho tái phát có thể.

Nguyên nhân

Các tế bào khỏe mạnh phát triển và phân chia một cách có trật tự để giữ cho cơ thể hoạt động bình thường. Nhưng đôi khi các tế bào trở nên bất thường (đột biến) và phát triển ngoài tầm kiểm soát. Các tế bào tiếp tục phân chia tế bào mới ngay cả khi không cần thiết. Những tế bào bất thường có thể xâm nhập và phá hủy các mô lân cận và thậm chí có khả năng di chuyển đến các bộ phận khác của cơ thể và bắt đầu phát triển ở đó.

Trong ung thư nội mạc tử cung, các tế bào ung thư phát triển trong tử cung. Tại sao các tế bào ung thư phát triển không hoàn toàn được biết đến. Tuy nhiên, các nhà khoa học tin rằng mức estrogen đóng vai trò trong sự phát triển của ung thư nội mạc tử cung. Các yếu tố có thể làm tăng mức hormone này và các yếu tố nguy cơ khác của bệnh đã được xác định và tiếp tục xuất hiện. Ngoài ra, nghiên cứu liên tục được dành cho nghiên cứu thay đổi trong các gen nào đó có thể gây ra các tế bào trong nội mạc tử cung để trở thành ung thư.

Yếu tố nguy cơ

Các hệ thống sinh sản của nữ gồm hai buồng trứng, hai ống dẫn trứng, một tử cung và âm đạo. Các buồng trứng sản xuất hai hormone nữ chính, estrogen và progesterone. Sự cân bằng giữa hai sự thay đổi hormone mỗi tháng, làm cho nội mạc tử cung dày lên trong thời kỳ đầu của chu kỳ hàng tháng. Nếu thai kỳ không xảy ra, nội mạc tử cung sau đó được đổ ra trong giai đoạn cuối của chu kỳ kinh nguyệt.

Khi sự cân bằng của hai hormone estrogen di chuyển đến gần hơn, kích thích sự tăng trưởng của nội mạc tử cung, một người phụ nữ nguy cơ phát triển ung thư nội mạc tử cung tăng lên. Những yếu tố có mức tăng estrogen trong cơ thể bao gồm:

Nhiều năm có kinh nguyệt. Nếu bắt đầu có kinh ở độ tuổi sớm trước khi 12 tuổi hoặc bắt đầu thời kỳ mãn kinh sau đó, có nguy cơ cao của bệnh ung thư nội mạc tử cung hơn là một người phụ nữ khác.

Không bao giờ có thai. Mang thai dường như giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, mặc dù các chuyên gia không chắc chắn chính xác tại sao điều này có thể. Cơ thể sản xuất estrogen nhiều hơn trong thai kỳ, nhưng nó tạo ra nhiều progesterone. Progesterone tăng sản xuất có thể bù đắp những tác động của việc gia tăng mức estrogen. Cũng có thể không có được mang thai có thể là kết quả của vô sinh do sự rụng trứng không đều, đó có thể là lý do tại sao những phụ nữ không bao giờ mang thai có nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

Không thường xuyên rụng trứng. Sự rụng trứng, việc phát hành hàng tháng của một quả trứng từ một buồng trứng ở phụ nữ có kinh, là quy định của estrogen. Không thường xuyên rụng trứng hoặc không rụng trứng làm tăng tiếp xúc với estrogen. Sự rụng trứng không đều có nhiều nguyên nhân, bao gồm cả béo phì và tình trạng được gọi là hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS). Đây là một tình trạng mất cân bằng nội tiết tố, trong đó ngăn chặn sự rụng trứng và kinh nguyệt. Điều trị bệnh béo phì và quản lý các triệu chứng của PCOS có thể giúp phục hồi sự rụng trứng hàng tháng và chu kỳ kinh nguyệt, giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

Bệnh béo phì. Buồng trứng không phải là nguồn duy nhất của estrogen. Mô mỡ có thể sản xuất estrogen. Béo phì có thể làm tăng mức độ estrogen trong cơ thể, đưa tới có nguy cơ cao của bệnh ung thư nội mạc tử cung và ung thư khác. Béo phì, phụ nữ có ba lần nguy cơ ung thư nội mạc tử cung và phụ nữ thừa cân có nguy cơ gấp hai lần, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ. Tuy nhiên, phụ nữ gầy cũng có thể phát triển ung thư nội mạc tử cung.

Một chế độ ăn giàu chất béo. Loại chế độ ăn uống có thể thêm vào nguy cơ ung thư nội mạc tử cung bằng cách thúc đẩy béo phì. Hoặc, thực phẩm béo trực tiếp ảnh hưởng đến sự trao đổi chất estrogen, làm tăng thêm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung người phụ nữ.

Bệnh tiểu đường. Ung thư nội mạc tử cung phổ biến hơn ở phụ nữ bị tiểu đường, có thể vì bệnh béo phì và tiểu đường type 2 thường đi song song. Tuy nhiên, ngay cả phụ nữ bị tiểu đường không phải là người thừa cân có nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

Estrogen – thay thế trị liệu (ERT). Estrogen kích thích sự tăng trưởng của nội mạc tử cung. Thay thế estrogen sau khi mãn kinh có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Lấy progestin tổng hợp, một hình thức của các hormone progesterone với estrogen – sự kết hợp giữa liệu pháp hormone thay thế thực sự làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Tuy nhiên, sự kết hợp này có thể gây ra nguy cơ sức khỏe khác, chẳng hạn như cục máu đông hay ung thư vú.

Các khối u buồng trứng. Một số khối u buồng trứng của có thể là một nguồn estrogen, làm tăng mức estrogen.

Các yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung bao gồm:

Tuổi. Tuổi càng cao, càng có nhiều nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Đa số các bệnh ung thư nội mạc tử cung xảy ra ở phụ nữ lớn tuổi hơn 55.

Lịch sử bản thân bệnh ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng. Nếu đã có vú hoặc ung thư buồng trứng, có thể có tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung vì tất cả các bệnh ung thư chia sẻ một số các yếu tố nguy cơ tương tự. Tuy nhiên, đại đa số các phụ nữ có hoặc vú hoặc ung thư buồng trứng không bao giờ phát triển ung thư nội mạc tử cung.

Điều trị Tamoxifen. Một trong tất cả 500 phụ nữ có ung thư vú đã được điều trị với tamoxifen sẽ phát triển ung thư nội mạc tử cung. Mặc dù tamoxifen chủ yếu như là chặn estrogen, nó có một số hiệu ứng giống như estrogen và có thể gây ra nội mạc tử cung phát triển. Nếu đang được điều trị bằng hoóc môn này, xem bác sĩ cho khám phụ khoa hàng năm và chắc chắn để báo cáo bất cứ chảy máu âm đạo bất thường.

Chủng tộc. Phụ nữ da đen có nguy cơ tử vong do ung thư nội mạc tử cung, mặc dù phụ nữ da trắng có nhiều khả năng phát triển ung thư nội mạc tử cung.

Di truyền ung thư đại trực tràng nonpolyposis (HNPCC). Căn bệnh di truyền là do sự bất thường trong một gene quan trọng cho việc sửa chữa DNA. Phụ nữ với HNPCC có nguy cơ cao hơn đáng kể bệnh ung thư nội mạc tử cung cũng như ruột kết và ung thư khác. Nguy cơ ung thư nội mạc tử cung cho những phụ nữ có HNPCC đột biến là từ 40% đến 60%, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ.

Có yếu tố nguy cơ ung thư nội mạc tử cung không có nghĩa là sẽ nhận được bệnh tật. Nó có nghĩa là có nguy cơ và cần được cảnh báo để có thể có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh. Ngược lại, một số phụ nữ phát triển ung thư nội mạc tử cung xuất hiện không có yếu tố nguy cơ bệnh.

774-thongtin-ung-thu-noi-mac-tu-cung

Các biến chứng

Các biến chứng nghiêm trọng nhất của ung thư bao gồm ung thư nội mạc tử cung, là nó có thể lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể (di căn). May mắn thay, khi phát hiện sớm, ung thư nội mạc tử cung thường có thể chữa được. tỷ lệ sống sót năm năm là 95% bệnh ung thư nội mạc tử cung giai đoạn đầu. Nếu ung thư nội mạc tử cung đã đạt đến giai đoạn cao trước khi chẩn đoán, nó có thể đã lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể và có nhiều khó khăn để điều trị thành công.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ phụ khoa hoặc bác sĩ chăm sóc sẽ thực hiện một lịch sử hoàn thành y tế và thực hiện một cuộc kiểm tra thể chất và khung chậu. Trong quá trình khám phụ khoa, bác sĩ cảm thấy đối với bất kỳ cục u hoặc thay đổi hình dạng của tử cung mà có thể chỉ ra một vấn đề.

Chẩn đoán có thể có hoặc không có thể bao gồm các xét nghiệm:

Transvaginal siêu âm. Bác sĩ có thể đề nghị một transvaginal siêu âm để xem xét độ dày và kết cấu của nội mạc tử cung và giúp loại bỏ các điều kiện khác. Trong tiến trình này, một thiết bị giống như cây đũa (bộ chuyển đổi) được đưa vào âm đạo. Bộ chuyển đổi này sử dụng sóng âm thanh để tạo ra một hình ảnh video của tử cung. Thử nghiệm này giúp bác sĩ tìm những bất thường trong tử cung và nó có thể được thực hiện trước khi sinh thiết nội mạc tử cung để xác định vị trí nghi ngờ mô.

Sinh thiết nội mạc tử cung. Để có được một mẫu tế bào từ bên trong tử cung, có thể trải qua sinh thiết nội mạc tử cung. Điều này bao gồm việc loại bỏ các mô từ lớp lót tử cung để phân tích trong phòng thí nghiệm. Điều này có thể được thực hiện tại văn phòng bác sĩ và thường không cần gây mê. Bởi vì các nguy cơ gia tăng, những phụ nữ có HNPCC đột biến nên nói chuyện với bác sĩ của họ về sinh thiết nội mạc tử cung hàng năm bắt đầu từ khoảng tuổi 35.

Nong và nạo (D và C). Nếu đủ các mô không thể có được trong quá trình sinh thiết hoặc nếu sinh thiết cho thấy bệnh ung thư, cần phải trải qua một D và C. Trong thủ tục này, đòi hỏi phải trong một phòng gây tê, mô cạo từ niêm mạc tử cung và kiểm tra dưới kính hiển vi cho các tế bào ung thư.

Pap test. Bác sĩ có một mẫu tế bào từ cổ tử cung, phần, thấp hẹp của tử cung mở ra vào trong âm đạo. Các bác sĩ sử dụng xét nghiệm Pap để phát hiện một dạng khác của ung thư – ung thư cổ tử cung. Bởi vì ung thư nội mạc tử cung bắt đầu bên trong tử cung, nó hiếm khi bị phát hiện bởi một xét nghiệm Pap.

Nếu ung thư nội mạc tử cung được tìm thấy, có thể được giới thiệu đến một bác sĩ chuyên khoa phụ khoa – một bác sĩ chuyên điều trị bệnh ung thư liên quan đến hệ thống sinh sản nữ. Cần phải thử nghiệm thêm để xác định liệu ung thư đã lan (di căn) tới các phần khác của cơ thể. Các xét nghiệm này có thể bao gồm chụp X – quang, chụp cắt lớp vi tính (CT) quét và một số xét nghiệm máu.

Trong ung thư nội mạc tử cung, xét nghiệm cuối cùng được thực hiện thông qua một thủ tục phẫu thuật và được thực hiện cùng một lúc như bất kỳ điều trị phẫu thuật:

Giai đoạn I. Ung thư chỉ được tìm thấy trong tử cung và không lây lan.

Giai đoạn II. Ung thư có trong cơ thể cả hai tử cung và cổ tử cung. Trong giai đoạn này, ung thư không còn giới hạn trong tử cung, nhưng không lan rộng ra khỏi khu vực xương chậu.

Giai đoạn III. Ung thư đã không tham gia vào trực tràng và bàng quang, mặc dù các hạch bạch huyết vùng xương chậu có thể tham gia.

Giai đoạn IV. Ung thư là nghiêm trọng nhất và có nghĩa là ung thư đã lan qua vùng xương chậu và có thể ảnh hưởng đến bàng quang, trực tràng và nhiều phần xa của cơ thể.

Phương pháp điều trị và thuốc

Phẫu thuật là điều trị phổ biến nhất cho ung thư nội mạc tử cung. Hầu hết các bác sĩ khuyên hoặc là phẫu thuật cắt bỏ tử cung, nhiều khả năng các phẫu thuật cắt bỏ tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng. Các hạch bạch huyết ở khu vực này cũng cần được loại bỏ trong quá trình phẫu thuật cùng với các mẫu mô khác.

Cắt bỏ tử cung là một hoạt động lớn, bởi vì không thể có thai sau khi tử cung đã được gỡ bỏ, nó có thể là một quyết định khó khăn đối với một số phụ nữ. Tuy nhiên, phẫu thuật thường là cách duy nhất để loại trừ ung thư hoặc cần thiết phải điều trị thêm.

Nếu có một hình thức tích cực của bệnh ung thư nội mạc tử cung hoặc ung thư đã lan đến các bộ phận khác của cơ thể, có thể cần điều trị bổ sung. Đây có thể bao gồm:

Bức xạ. Nếu bác sĩ tin rằng đang có nguy cơ cao tái phát ung thư, người đó có thể gợi ý rằng xạ trị sau khi phẫu thuật. Bác sĩ cũng có thể đề nghị xạ trị khối u ung thư nếu phát triển nhanh, xâm nhập sâu vào cơ bắp của tử cung hoặc liên quan đến mạch máu. Xạ trị liên quan đến việc sử dụng liều cao tia X để diệt các tế bào ung thư. Khi thực hiện từ bên ngoài cơ thể, nó được gọi là tia bức xạ trị liệu bên ngoài. Brachytheraphy là một dạng khác của bức xạ có liên quan đến ứng dụng nội bộ của bức xạ, thường là để các lớp lót bên trong của tử cung. Brachytheraphy có tác dụng phụ ít hơn so với xạ trị thông thường. Tuy nhiên, brachytheraphy xử lý chỉ là một khu vực nhỏ của cơ thể.

Hormone liệu pháp. Nếu ung thư đã lan ra các phần khác của cơ thể, tổng hợp progestin, một dạng của progesterone hormone, có thể ngăn chặn nó phát triển. Các progestin được sử dụng trong điều trị ung thư nội mạc tử cung được quản lý ở liều cao hơn được sử dụng trong liệu pháp thay thế hormone cho phụ nữ mãn kinh. Các thuốc khác có thể được sử dụng. Điều trị với progestin có thể là một lựa chọn cho phụ nữ bị ung thư nội mạc tử cung sớm, những người muốn có con và do đó không muốn cắt bỏ tử cung. Tuy nhiên, phương pháp này là không phải không có nguy cơ ung thư sẽ trở lại. Cẩn thận thảo luận về điều trị này với một chuyên gia trong lĩnh vực này.

Một tùy chọn khác là liệu pháp hormone gonadotropin-releasing hormone agonist. Các thuốc này có thể hạ thấp mức estrogen ở phụ nữ tiền mãn kinh.

Hóa trị. Hóa trị là sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Thông thường, các loại thuốc hóa trị được sử dụng kết hợp để tăng hiệu quả của họ. Nói chung, phụ nữ có giai đoạn III hoặc ung thư nội mạc tử cung giai đoạn IV sẽ được hóa trị như là một phần của phác đồ điều trị của họ. Có thể nhận được thuốc hóa trị bằng thuốc (uống) hoặc thông qua các tĩnh mạch. Các thuốc này nhập vào máu và sau đó đi qua cơ thể, làm chết tế bào ung thư bên ngoài tử cung.

Mỗi loại điều trị ung thư nội mạc tử cung có thể có tác dụng phụ. Hãy hỏi bác sĩ những tác dụng phụ có thể và những gì có thể được thực hiện để quản lý chúng.

Nếu có giai đoạn cuối hoặc ung thư nội mạc tử cung, có thể hưởng lợi từ tham gia vào thử nghiệm lâm sàng cung cấp các lựa chọn điều trị mới thực nghiệm.

Sau khi điều trị ung thư nội mạc tử cung, bác sĩ có thể sẽ khuyên nên thường xuyên theo dõi kiểm tra để xác định liệu ung thư đã trở lại. Kiểm tra có thể bao gồm lâm sàng, kiểm tra vùng chậu, thử nghiệm Pap, X – quang ngực và các xét nghiệm.

Đối phó và hỗ trợ

Sau khi nhận được một chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung, có thể có nhiều câu hỏi, nỗi sợ hãi và lo lắng. Chẩn đoán sẽ hưởng đến gia đình, công việc và tương lai ? Có thể lo lắng về các xét nghiệm, điều trị, nằm viện và hóa đơn y tế. Ngay cả khi bình phục hoàn toàn có thể, có thể lo lắng về khả năng tái phát của bệnh ung thư.

May mắn thay, nhiều nguồn tài nguyên có sẵn cho bản thân và gia đình để giúp trả lời câu hỏi và hỗ trợ. Điều quan trọng là phải nhớ rằng không phải đối mặt với câu hỏi hoặc nỗi sợ hãi một mình. Dưới đây là một số chiến lược và các nguồn lực có thể làm việc với bệnh ung thư nội mạc tử cung dễ dàng hơn:

Biết những gì mong đợi. Tìm hiểu tất cả mọi thứ có thể về bệnh ung thư, lựa chọn điều trị và ảnh hưởng của chúng. Điều quan trọng để có trung thực, các cuộc thảo luận mở với nhóm chăm sóc bệnh ung thư. Càng biết, càng có nhiều hoạt động có thể được trong việc tự chăm sóc. Ngoài việc nói chuyện với bác sĩ, tìm kiếm thông tin tại thư viện địa phương và trên Internet. Nhân viên của Viện Ung thư Quốc gia sẽ trả lời câu hỏi từ công chúng.

Hãy chủ động. Mặc dù có thể cảm thấy mệt mỏi và chán nản, không yêu cầu người khác, kể cả gia đình và bác sĩ để đưa ra quyết định quan trọng đối với bản thân. Tham dự một vai trò tích cực trong điều trị. Trước khi bắt đầu điều trị, có thể muốn có một ý kiến thứ hai từ một chuyên gia có trình độ.

Duy trì một hệ thống hỗ trợ mạnh mẽ. Mối quan hệ mạnh có thể giúp đối phó với bệnh ung thư điều trị và tồn tại. Mặc dù bạn bè và gia đình có thể đồng minh tốt nhất, đôi khi họ có thể có vấn đề đối phó với bệnh tật. Nếu vậy, mối quan tâm và hiểu biết của một nhóm hỗ trợ chính thức hoặc những người sống sót ung thư khác có thể đặc biệt hữu ích. Hãy hỏi bác sĩ để giúp liên lạc với một nhóm hỗ trợ trong khu vực.

Phòng chống

Mặc dù hầu hết các trường hợp ung thư nội mạc tử cung không ngăn ngừa được, yếu tố nào đó có thể giảm nguy cơ phát triển bệnh. Chúng bao gồm:

Điều trị hormone (HT) với progestin. Estrogen kích thích sự tăng trưởng của nội mạc tử cung. Thay thế estrogen sau khi mãn kinh có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Lấy progestin tổng hợp, một hình thức của các hormone progesterone với estrogen làm cho niêm mạc tử cung. Loại hormone trị liệu kết hợp làm giảm nguy cơ. Nhưng không phải tất cả các ảnh hưởng của HT là tích cực. Lấy HT như là một liệu pháp kết hợp có thể gây tác dụng phụ nghiêm trọng và nguy cơ sức khỏe, chẳng hạn như là một nguy cơ cao của bệnh ung thư vú và cục máu đông. Làm việc với bác sĩ để đánh giá các lựa chọn và quyết định những gì tốt nhất.

Một lịch sử của việc sử dụng thuốc tránh thai. Sử dụng thuốc ngừa thai uống có thể làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, ngay cả khi 10 năm sau khi ngừng thuốc. Rủi ro là thấp nhất ở những phụ nữ mang thai uống nhiều năm.

Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Béo phì là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất cho sự phát triển của bệnh ung thư nội mạc tử cung. Có thể giúp ngăn ngừa ung thư nội mạc tử cung bằng cách duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Các mô chất béo dư thừa có thể làm tăng mức độ estrogen trong cơ thể, làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh khi có tuổi làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung cũng như các bệnh khác.

Tập thể dục. Thường xuyên tập thể dục có thể có một ảnh hưởng rất lớn về nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Những phụ nữ tham gia vào tập thể dục mỗi ngày có một nửa nguy cơ ung thư nội mạc tử cung so với những phụ nữ không tập thể dục, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ.