X

Tính chỉ số BMI

Chiều cao: cm

Cân nặng : kg

Tính

Tiên phong trong chăm sóc phái đẹp

NHIỄM TRÙNG BÀO THAI

CYTOMEGALOVIRUS VÀ THAI KỲ

By on 27/05/2016

1. Định nghĩa:

Virus Cytomegalo (CMV) là loại virus thuộc nhóm Herpes, tên gọi từ tế bào bị nhiễm virus phồng to lên. Đây là tác nhân có thể gây nhiều bệnh cho mọi nhóm tuổi, từ những bất thường bẩm sinh đến các rối loạn bệnh lý, đặc biệt ở  người suy giảm miễn dịch.

2. Sự lây truyền và dịch tễ:

– CMV có mặt ở khắp nơi trên thế giới, chỉ gây dịch nhỏ. Cuộc sống cộng đồng và vệ sinh cá nhân kém là điều kiện thuận lợi cho sự lây truyền bệnh; khoảng 1% sơ sinh nhiễm CMV, tỉ lệ này cao hơn ở các nước đang phát triển.

– CMV có thể hiện diện trong sữa mẹ, nước miếng, phân người và nước tiểu. Sự lây truyền theo nhiều kiểu khác nhau. Nhiễm ở tuổi chu sinh và trẻ em nhỏ xảy ra rất thường xuyên. Giai đoạn sớm thì truyền qua nhau thai, trong lúc sinh và trong sữa mẹ. Ở trẻ nhỏ thì truyền qua nước bọt. Lúc lớn thì truyền qua đường sinh dục, CMV hiện diện âm thầm trong tinh dịch và dịch tiết cổ tử cung. Nó cũng truyền qua đường máu hoặc ghép cơ quan. 80% người lớn có kháng thể.

– Khoảng 40-80 % người lớn bị nhiễm CMV tại Hoa Kỳ trước tuổi 40. Ở các nước đang phát triển tỉ lệ này cao đến 90 %.

3. Tính chất:

CMV có tính đặc hiệu loài và tế bào, về cấu trúc và hình dạng tương tự như những herpesvirus khác, nhưng CMV chỉ có đơn độc 1 serotýp .

Virus thường ẩn trong nguyên bào sợi để phân chia và tăng trưởng, được phân lập từ tế bào biểu mô ký chủ và tạo nhiều thể vùi.


4. Sinh bệnh học:

– Người là ký chủ tự nhiên. Lây truyền từ người sang người. Dòng CMV động vật không gây bệnh cho người. Đa số người bị nhiễm phát hiện được nhờ xét nghiệm.

– Tỉ lệ mắc tăng lên ở những người nhận cơ quan ghép, hóa trị trong ung thư… Biến chứng thường gặp là viêm phổi, đặc biệt viêm phổi kẽ.

– Một khi đã bị nhiễm thì người bệnh sẽ mang CMV suốt đời dù cho không có triệu chứng. CMV thường ngủ yên trong tế bào bạch cầu, sự tái hoạt CMV có thể xảy ra khi các tế bào miễn dịch  Lympho T bị suy yếu, do bệnh như nhiễm HIV hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch.

– Trong trường hợp bệnh lan tỏa có thể tìm thấy CMV ở nhiều cơ quan, do sự lan tỏa của các đại bào chứa thể vùi nhưng số lượng đại bào không phản ánh được sự rối loạn chức năng của các cơ quan bị nhiễm.

5. Bệnh học:

Nhiễm CMV ở người lớn và trẻ em lớn:

Nhiễm CMV gây ra Hội chứng tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng. Thời gian ủ bệnh 20 – 60 ngày, xuất hiện triệu chứng bệnh sau 2 –  6 tuần với các triệu chứng: sốt kéo dài, đôi khi lạnh run, suy yếu, khó chịu; đau cơ, lách to, viêm họng xuất tiết và viêm hạch ở cổ;…bất thường chức năng gan và bệnh lý lympho bào. Bệnh thường nhẹ, hầu hết bệnh nhân hồi phục không di chứng nhưng viêm gan cận lâm sàng lại thường gặp. Rất hiếm khi nhiễm CMV đưa đến tử vong, trừ các trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Đặc biệt ở bệnh nhân được ghép thận, ghép tủy bị đè nén miễn dịch để lại biến chứng viêm phổi mô kẽ với tỷ lệ cao.

Nhiễm CMV chu sinh:

– Trẻ sơ sinh có thể bị nhiễm CMV trong lúc sinh khi ngang qua âm đạo hoặc nhiễm sau sinh khi bú sữa mẹ hay do tiếp xúc với các dịch tiết khác của mẹ. 40 – 60 % trẻ sơ sinh bú mẹ hơn một tháng mà mẹ có huyết thanh dương tính với CMV sẽ bị lây nhiễm.

– Đa số các trẻ này đều không có triệu chứng, một số trẻ có thể có triệu chứng viêm phổi kẽ kéo dài. Một số triệu chứng khác hay gặp như cân nặng lúc sinh thấp, viêm hạch, nổi mẩn, viêm gan, tế bào lympho tăng và thiếu máu.

– CMV có khả năng được thải không liên tục từ hầu họng và nước tiểu trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm.

Nhiễm CMV bẩm sinh:

– Trẻ nhiễm virus trong thời kỳ thai nghén gây bệnh thể vùi tế bào khổng lồ. Tế bào khổng lồ được tạo thành gọi là Cytomegalo, có nhiều nhân nổi bật, nhiều thể vùi trong nhân. Nhiều cơ quan cũng bị nhiễm dẫn đến bất thường bẩm sinh.

– Hầu như chỉ những thai nhi có mẹ bị nhiễm CMV lần đầu trong khi mang thai mới có triệu chứng lâm sàng.

– Thai nhi có nhiều dạng biểu hiện lâm sàng từ không có triệu chứng đến thể nặng và lan rộng toàn thân. Một số triệu chứng như đốm mảng xuất huyết, gan, lách to, vàng da (60-80%), teo não và đầu nhỏ, nhu mô não bị vôi hóa, chậm phát triển trong tử cung(30-50%), thoát vị bẹn và viêm võng mạc ít thấy hơn.

Xét nghiệm cận lâm sàng: men gan tăng, tiểu cầu giảm, bilirubin cao, tán huyết, protein trong dịch não tủy cao.

Tiên lượng xấu: tỉ lệ tử vong 20 – 30% , nếu còn sống sót có thể dẫn đến trì trệ tâm thần ở trẻ và điếc khi lớn lên. Gần như các trường hợp CMV bẩm sinh không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt và sau này, 5-25% sẽ bị chậm phát triển tâm thần, mù, răng hỏng bất thường.

6. Chẩn đoán:

Các xét nghiệm giúp chẩn đoán xác định nhiễm CMV: phân lập siêu vi CMV, tìm kháng thể – kháng nguyên CMV, thử nghiệm PCR tìm CMV-DNA hoặc quan sát trực tiếp bằng kính hiển vi điện tử.

Phân lập virus:
– Bệnh phẩm: nước rửa họng, nước tiểu.

– Cấy bệnh phẩm vào tế bào và quan sát sự thay đổi tế bào sau 1-2 tuần lễ sẽ cho hình ảnh tế bào bị phồng to chứa nhiều thể vùi trong nhân tế bào.

– Do sự hủy hoại tế bào xảy ra chậm (1-2 tuần) nên khuyết điểm của phương pháp này là thời gian đọc kết quả lâu.

– Phân lập virus kết hợp với chuyển đổi huyết thanh là phương pháp tốt nhất để chẩn đoán sơ nhiễm CMV ở người bình thường.

Chẩn đoán huyết thanh học:
– Thử nghiệm trung hòa, miễn dịch huỳnh quang tìm kháng thể rất hữu ích trong chẩn đoán các trường hợp nhiễm trùng bẩm sinh nhưng không có biểu hiện lâm sàng.

– Kháng thể đặc hiệu chống virus Cytomegalo là IgM, IgA và IgG. Kháng thể có trong sữa mẹ không ngăn chặn được sự lây truyền từ mẹ sang con và hạn chế được sự trầm trọng của bệnh.

– Khi nhiễm CMV thì mang IgG dương tính suốt đời

7. Phòng bệnh:

– Hiện vẫn chưa có vaccine dự phòng CMV.

– Sàng lọc kĩ máu trước khi truyền máu, sàng lọc tủy xương tạng ghép trước khi đưa vào người nhận

– Trẻ bị bệnh thể vùi tế bào khổng lồ thải virus qua nước tiểu phải cách ly với những trẻ khác.

– Có thể sử dụng CMV-globulin miễn dịch tiêm để hạn chế bớt các trường hợp nhiễm khi ghép tạng hoặc dự phòng nhiễm cho các bé có mẹ nhiễm tiên phát CMV trong lúc mang thai. Acyclovir hay valacyclovir có thể hạn chế bớt sự lây nhiễm CMV cho người nhận tạng ghép.

8. Điều trị:

Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho người nhiễm CMV.
Ganciclovir có thể làm giảm triệu chứng ở người suy giảm miễn dịch nhiễm CMV.

Tài liệu tham khảo:

1. Lý Văn Xuân.Virus học. Nhà xuất bản y học
2. Bộ y tế. Trường ĐHYD TPHCM.Virus học. Bộ môn vi sinh
3. Hương Cát. Viện Thông tin y học Trung ương VN.CDC

Khác
Sanh lại sau khi mổ lấy thai
Trước đây, mổ lấy thai (MLT) lại được xem như là phương pháp duy nhất trên người có sẹo MLT trước đó. Ngày nay, sanh ngã âm đạo sau MLT mang lại nhiều lợi ích cho cả mẹ và con nên ngày càng được áp dụng rộng rãi
16/06/2010
Xét nghiệm Beta hCG trong thai kỳ
Beta hCG (Human chorionic Gonadotropin ) là một sialoglycoprotein với trọng lượng phân tử khoảng 46.000 dalton. HCG ban đầu được chế tiết bởi tế bào trophoblast (lá nuôi) của bánh nhau ngay sau khi trứng thụ tinh. Nồng độ hCG trong huyết thanh tăng nhanh sau thụ thai khiến nó trở thành một marker tuyệt vời cho việc xác định sớm và theo dõi thai.
CN. Hạ Đình Bửu Thắm
CN. Nguyễn Ngọc Trang Đài
K. Xét nghiệm – BV Từ Dũ
 

TOXOPLASMAL VÀ THAI KỲ

By on 26/05/2016

Toxoplasmosis là nhiễm ký sinh trùng có thể gây ra triệu chứng giống cúm. Sinh vật gây bệnh toxoplasmosis – Toxoplasma gondii – là một trong những ký sinh trùng phổ biến nhất trên thế giới.

Hầu hết mọi người bị ảnh hưởng không bao giờ phát triển các dấu hiệu và triệu chứng. Nhưng đối với trẻ sinh ra từ bà mẹ bị nhiễm bệnh và những người bị tổn thương hệ thống miễn dịch, toxoplasmosis có thể gây biến chứng vô cùng nghiêm trọng.

Nếu thường khỏe mạnh, có thể không cần bất kỳ điều trị nào cho bệnh toxoplasmosis. Nếu đang mang thai hoặc có giảm miễn dịch, một số thuốc có thể giúp giảm mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng. Tuy nhiên, cách tiếp cận tốt nhất là phòng ngừa.

Các triệu chứng

Thông thường, không biết đã nhiễm toxoplasmosis, mặc dù một số người có thể phát triển triệu chứng bệnh toxoplasmosis tương tự như của bệnh cúm hoặc tăng bạch cầu đơn nhân, chẳng hạn như:

  • Đau nhức cơ thể.
  • Sưng hạch bạch huyết.
  • Nhức đầu.
  • Sốt.
  • Mệt mỏi.
  • Thỉnh thoảng đau họng.

Nếu đang sống với HIV / AIDS, đang được hóa trị hoặc gần đây đã cấy ghép nội tạng, có nhiều khả năng phát triển các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm toxoplasmosis nặng, bao gồm:

  • Nhức đầu.
  • Lẫn lộn.
  • Nghèo phối hợp.
  • Động kinh.

Vấn đề phổi có thể tương tự như bệnh lao hoặc viêm phổi Pneumocystis carinii, nhiễm trùng cơ hội chung xảy ra ở những người bị AIDS.

  • Mờ mắt do viêm nhiễm nghiêm trọng của võng mạc (mắt toxoplasmosis).

Các dấu hiệu ở trẻ

Hầu hết phụ nữ có thai bị nhiễm toxoplasmosis không có dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh, nhưng nếu bị nhiễm bệnh lần đầu tiên ngay trước hoặc trong quá trình mang thai, có khoảng 30 phần trăm cơ hội truyền bệnh cho em bé (bẩm sinh toxoplasmosis), ngay cả khi không có các dấu hiệu và triệu chứng.

Các rủi ro và mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng của bé thường phụ thuộc vào khi ở trong thời kỳ mang thai đã bị nhiễm bệnh. Em bé nguy cơ nhiễm toxoplasmosis hầu hết nếu bị nhiễm bệnh trong 3 tháng thứ ba và nhất là nguy cơ nếu bị nhiễm bệnh trong ba tháng đầu tiên. Mặt khác, trước đó trong thời kỳ mang thai bị nhiễm trùng xảy ra, kết quả nghiêm trọng hơn cho em bé. Rất nhiều bệnh nhiễm trùng kết thúc sớm trong thai chết lưu hoặc sẩy thai, và trẻ em không có khả năng được sinh ra với vấn đề nghiêm trọng, chẳng hạn như:

  • Động kinh.
  • Gan và lá lách to.
  • Vàng da và lòng trắng của (vàng da) mắt.
  • Mắt bị nhiễm trùng nặng.

Chỉ một số nhỏ các em bé có dấu hiệu toxoplasmosis bệnh khi sinh. Thay vào đó, nhiều trẻ sơ sinh bị nhiễm bệnh không phát triển các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh cho đến khi ở lứa tuổi thiếu niên hoặc sau đó. Những dấu hiệu và triệu chứng bao gồm:

  • Nghe kém.
  • Chậm phát triển tâm thần.
  • Mắt bị nhiễm trùng nghiêm trọng có thể dẫn đến mù lòa.

Nếu đang sống chung với HIV / AIDS hoặc đang mang thai hoặc suy nghĩ về mang thai, hãy nói chuyện với bác sĩ về thử nghiệm. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh toxoplasmosis nặng – mắt mờ, nhầm lẫn, mất phối hợp – yêu cầu trực tiếp chăm sóc y tế, đặc biệt nếu hệ thống miễn dịch đã bị suy yếu.

Nguyên nhân

Toxoplasma gondii (T. gondii) là một sinh vật ký sinh trùng đơn bào có thể lây nhiễm sang hầu hết động vật và chim. Nhưng vì nó sinh sản chỉ có ở mèo, mèo hoang dã và động vật trong nước là chủ cuối cùng của ký sinh trùng. Chu kỳ sống phức tạp của T. gondii bắt đầu khi một con mèo ăn con mồi bị nhiễm bệnh, thường là một con chuột hoặc chim.

Mèo cũng có thể bị nhiễm nếu chúng được cho ăn thịt bị nhiễm bệnh. Sau khi ăn, T. gondii vào các bức thành của ruột non của mèo, hình thành nên giai đoạn đầu các tế bào gọi là kén hợp tử, loại bỏ trong phân của nó, thường là trong thời gian 2 – 3 tuần. Phân có thể chứa hàng triệu kén hợp tử.

Trong vòng một vài ngày, các kén hợp tử phát triển thành trưởng thành, các tế bào lây nhiễm rất cao trong điều kiện nhất định có thể tồn tại trong đất trong nhiều tháng. Nếu ăn phải động vật khác, nhanh chóng nhân bên trong chủ, cuối cùng hình thành u nang không hoạt động chủ yếu trong não hoặc cơ bắp. Mặc dù các động vật chủ mới thường không triệu chứng và sẽ không bài tiết ra kén hợp tử, nó vẫn có thể truyền các ký sinh trùng với bất kỳ động vật ăn thịt mà ăn nó.

Điều gì xảy ra ở người

Trong nhiều khía cạnh, mô hình tương tự như ở người. Sau khi bị nhiễm T. gondii, các u nang ký sinh trùng có thể ảnh hưởng đến hầu như bất kỳ phần nào của cơ thể, nhưng thường ảnh hưởng đến não và cơ bắp, bao gồm cả tim.

Nếu khỏe mạnh, hệ thống miễn dịch giữ ký sinh trùng, và vẫn còn trong cơ thể trong trạng thái không hoạt động. Điều này cung cấp miễn dịch để không thể bị nhiễm ký sinh trùng một lần nữa. Nhưng nếu sức đề kháng bị yếu đi vì bệnh tật hoặc thuốc nào đó, nhiễm trùng có thể được kích hoạt, dẫn đến biến chứng nghiêm trọng.

Mặc dù không thể nhiễm toxoplasmosis từ một đứa trẻ bị nhiễm bệnh hoặc người lớn, có thể bị nhiễm nếu tiếp xúc với:

Phân mèo có chứa các ký sinh trùng. Vô tình có thể ăn các loại ký sinh trùng nếu chạm vào miệng sau khi làm vườn, làm sạch một hộp rác hoặc bất cứ điều gì chạm vào tiếp xúc với phân mèo bị nhiễm bệnh. Những người ăn thịt sống có nhiều khả năng nhiễm T. gondii.

Ăn thực phẩm bị ô nhiễm hoặc nước. Thịt lợn, thịt nai là đặc biệt có khả năng bị nhiễm T. gondii. Các sản phẩm sữa chưa được tiệt trùng, đôi khi cũng có thể có các u nang.

Nhiễm dao, thớt hay các vật dụng khác. Đồ dùng nhà bếp tiếp xúc với thịt sống có thể nhiễm ký sinh trùng, trừ khi các dụng cụ được rửa kỹ trong nhiều nước xà phòng nóng.

Bị ô nhiễm trái cây và rau chưa rửa. Bề mặt của trái cây và rau quả có thể chứa các dấu vết của ký sinh trùng. Để an toàn, triệt để rửa tất cả các sản xuất, đặc biệt là ăn thô.

Cấy ghép nội tạng bị nhiễm bệnh hoặc truyền máu. Trong trường hợp hiếm hoi, toxoplasmosis có thể lây truyền thông qua cấy ghép nội tạng hoặc truyền máu.

Yếu tố nguy cơ

Bất cứ ai cũng có thể bị nhiễm toxoplasmosis. Ký sinh trùng này được tìm thấy trên khắp thế giới. Trong hầu hết trường hợp, nếu nhiễm toxoplasmosis, sẽ có rất ít dấu hiệu và triệu chứng. Nhưng có nguy cơ của các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nếu:

Đang sống với HIV / AIDS. Nhiều người sống chung với HIV / AIDS cũng có toxoplasmosis. Trong một số trường hợp, nhiễm trùng gần đây (cấp tính), và ở những người khác, một bệnh nhiễm trùng cũ đã biến chúng hoạt động.

Nếu có HIV / AIDS, điều quan trọng có thử nghiệm toxoplasmosis. Nếu xét nghiệm là dương tính, bác sĩ có thể theo dõi sự lây nhiễm, rất có thể trở thành hoạt động nếu số lượng tế bào lympho CD4 – một biện pháp miễn dịch của cơ thể – giảm xuống dưới 100. Một xét nghiệm âm tính có nghĩa là có thể có biện pháp ngăn ngừa nhiễm trùng trong tương lai.

Đang trải qua hóa trị. Điều trị hoá chất ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch, làm cho nó khó khăn cho cơ thể để chống lại ngay cả nhiễm trùng tiểu.

Steroid uống hoặc thuốc ức chế miễn dịch khác. Thuốc dùng để điều trị nonmalignant ngăn chặn hệ thống miễn dịch và làm cho nhiều khả năng phát triển các biến chứng của bệnh toxoplasmosis.

Đang mang thai. Nếu đang mang thai hoặc dự định có thai, hãy hỏi bác sĩ. Nếu có toxoplasmosis hoạt động, điều trị rất có thể làm giảm nguy cơ cho em bé. Nếu đã có toxoplasmosis trước khi mang thai, thường không thể truyền bệnh cho em bé.

Các biến chứng

Nếu một hệ thống miễn dịch mạnh, không thể gặp bất kỳ biến chứng của bệnh toxoplasmosis, mặc dù đôi khi người khỏe mạnh bị nhiễm trùng mắt.

Nhưng nếu hệ thống miễn dịch bị tổn thương, đặc biệt là do hậu quả của HIV / AIDS, toxoplasmosis có thể dẫn đến co giật và bệnh tật đe dọa tính mạng như viêm não – một bệnh nhiễm trùng não nghiêm trọng. Ở những người sống chung với AIDS, viêm não không được điều trị – kết quả từ toxoplasmosis là gây tử vong. Tái phát là mối quan tâm thường xuyên cho những người suy giảm miễn dịch với bệnh toxoplasmosis.

Trẻ em bị nhiễm toxoplasmosis bẩm sinh có thể phát triển các biến chứng vô hiệu hóa, bao gồm mất thính lực, mù và chậm phát triển tâm thần.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu không có kiểm tra cụ thể, toxoplasmosis thường khó chẩn đoán vì các dấu hiệu và triệu chứng khi chúng xảy ra, cũng tương tự như của nhiều bệnh thông thường như bệnh cúm và bạch cầu đơn nhân.

Kiểm tra trong thai kỳ

Nếu bác sĩ nghi ngờ bị nhiễm, có thể có một số xét nghiệm máu để kiểm tra kháng thể kháng ký sinh trùng. Kháng thể là những protein được sản xuất bởi hệ thống miễn dịch để đáp ứng với sự hiện diện của chất ngoại lai, bao gồm virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, thuốc và độc tố. Bởi vì các xét nghiệm kháng thể có thể khó để giải thích, các Trung tâm kiểm soát dịch bệnh (CDC) khuyến cáo rằng tất cả các kết quả tích cực được xác nhận bởi một phòng thí nghiệm chuyên về chẩn đoán toxoplasmosis.

Kết quả xét nghiệm có nghĩa là gì

Đôi khi có thể được thử nghiệm sớm trong quá trình của bệnh trước khi cơ thể có một cơ hội để sản xuất kháng thể. Trong trường hợp đó, có thể có một kết quả tiêu cực, ngay cả khi đang bị nhiễm bệnh. Nếu bác sĩ vẫn còn nghi ngờ, cần phải được xét nghiệm lại trong vài tuần. Trong hầu hết trường hợp, mặc dù, toxoplasmosis cho kết quả xét nghiệm âm tính có nghĩa là đã không bao giờ bị nhiễm bệnh và do đó không được miễn dịch với bệnh. Nếu đang có nguy cơ cao, có thể phải đề phòng để không bị nhiễm bệnh trong tương lai.

Một kết quả tích cực, mặt khác, không nhất thiết có nghĩa là đang tích cực bị nhiễm bệnh. Trong nhiều trường hợp, đó là một dấu hiệu cho thấy đã bị nhiễm bệnh tại một số thời gian trong cuộc sống và hiện đang miễn dịch với bệnh. Kiểm tra thêm có thể giúp xác định khi sự lây nhiễm xảy ra, dựa trên các loại kháng thể trong máu, và liệu các cấp độ của các kháng thể này đang tăng hay giảm. Điều này đặc biệt quan trọng nếu đang mang thai hoặc sống chung với HIV / AIDS.

Kiểm tra em bé

Nếu đang mang thai và bị nhiễm toxoplasmosis hiện hành, bước tiếp theo là xác định xem con có thể bị nhiễm. Các xét nghiệm bác sĩ giới thiệu có thể bao gồm:

Chọc ối. Trong thủ tục này, có thể được thực hiện một cách an toàn sau 15 tuần của thai kỳ, bác sĩ sử dụng một kim nhỏ để loại bỏ một lượng nhỏ chất lỏng từ túi chứa đầy chất lỏng bao quanh bào thai (túi ối). Các xét nghiệm sau đó được thực hiện trên chất lỏng để kiểm tra các bằng chứng về toxoplasmosis . Xét nghiệm này mang nguy cơ sẩy thai nhẹ. Cũng có thể gặp các biến chứng nhỏ, chẳng hạn như chuột rút, bị rò rỉ chất lỏng hoặc kích thích nơi kim được chèn vào.

Siêu âm. Thử nghiệm này sử dụng sóng âm thanh để tạo ra hình ảnh của em bé trong bụng mẹ. Siêu âm không thể chẩn đoán toxoplasmosis, mặc dù nó có thể cho biết em bé có dấu hiệu nào đó, chẳng hạn như não úng thủy. Nhưng bởi vì hầu hết trẻ sơ sinh không có dấu hiệu của bệnh toxoplasmosis khi sinh, siêu âm không loại trừ khả năng nhiễm trùng. Vì lý do đó, trẻ sơ sinh sẽ cần kiểm tra kỹ lưỡng sau khi sinh và ra máu xét nghiệm, theo dõi trong năm đầu tiên của cuộc sống.

Kiểm tra trong các trường hợp nghiêm trọng

Nếu đã phát triển một căn bệnh hiểm nghèo như viêm não toxoplasmic, có thể cần một hoặc nhiều xét nghiệm để kiểm tra hình ảnh tổn thương hoặc u nang trong não. Chúng bao gồm:

Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI). Thử nghiệm này sử dụng một từ trường và sóng vô tuyến để tạo ra ngang qua hình ảnh của bộ não. Trong thủ tục, nằm bên trong một máy lớn có chứa một nam châm được bao quanh bởi cuộn dây gửi và nhận sóng vô tuyến. Trong phản ứng với các sóng vô tuyến, cơ thể sản xuất ra các tín hiệu yếu được chọn của các cuộn dây và biến thành các hình ảnh bằng máy tính. MRI không xâm lấn và không gây rủi ro cho sức khỏe.

Sinh thiết não. Trong trường hợp hiếm hoi, đặc biệt là nếu không đáp ứng với điều trị, giải phẫu thần kinh có thể lấy một mẫu mô nhỏ từ bộ não. Mẫu này sau đó được phân tích trong phòng thí nghiệm để kiểm tra sự hiện diện của u nang toxoplasmic.

Phương pháp điều trị và thuốc

Hầu hết những người khỏe mạnh không cần điều trị toxoplasmosis. Nhưng nếu đang khỏe mạnh và có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh toxoplasmosis cấp tính, bác sĩ có thể kê toa các loại thuốc sau đây:

Pyrimethamine (Daraprim). Thuốc chống sốt rét cũng được sử dụng để điều trị toxoplasmosis. Đó là một chất đối kháng acid folic, có nghĩa là nó có thể ngăn cơ thể hấp thụ các vitamin B, folate quan trọng (axit folic, vitamin B-9), đặc biệt là khi sử dụng liều cao trong một thời gian dài. Vì lý do đó, bác sĩ có thể khuyên nên uống bổ sung acid folic. Các tác dụng phụ tiềm năng của pyrimethamine bao gồm ức chế tủy xương và nhiễm độc gan.

Sulfadiazine. Được sử dụng kháng sinh kết hợp với pyrimethamine để điều trị toxoplasmosis.

Điều trị người nhiễm HIV / AIDS

Nếu đang sống với HIV / AIDS và có toxoplasmosis, việc điều trị của sự lựa chọn cũng pyrimethamine và sulfadiazine, cùng với acid folic. Một cách khác là pyrimethamine kết hợp với clindamycin (Cleocin) – một thuốc kháng sinh mà đôi khi có thể gây tiêu chảy nặng.

Thông thường, sẽ cần phải thực hiện các loại thuốc này cho cuộc sống, mặc dù trong một số trường hợp, bác sĩ có thể xem xét ngưng điều trị toxoplasmosis nếu số lượng CD4 vẫn rất cao trong ít nhất 3 – 6 tháng. Tác dụng phụ của hầu hết các loại thuốc có thể nặng hơn ở người nhiễm HIV / AIDS.

Điều trị phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh

Nếu đang mang thai và hiện đang bị nhiễm toxoplasmosis nhưng em bé không bị ảnh hưởng, có thể được cho spiramycin kháng sinh. Sử dụng các thuốc này có thể làm giảm khả năng em bé sẽ bị nhiễm bệnh, mà không đặt ra nguy cơ đối với hoặc con. Mặc dù thường xuyên được sử dụng để điều trị bệnh toxoplasma ở châu Âu, spiramycin vẫn được coi là một loại thuốc thử nghiệm tại Hoa Kỳ.

Khi xét nghiệm chỉ ra trẻ em chưa sinh đã bị nhiễm toxoplasmosis, bác sĩ có thể đề nghị điều trị với pyrimethamine và sulfadiazine. Bởi vì các thuốc này có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng đối với cả phụ nữ và trẻ sơ sinh, chúng thường không được sử dụng trong thai kỳ, nhưng các bác sĩ đôi khi quy định chúng trong hoàn cảnh. Thuốc điều trị có thể làm giảm bớt mức độ nghiêm trọng của bệnh toxoplasma bẩm sinh, nhưng nó sẽ không lùi lại những hư hỏng đó đã được thực hiện.

Phòng chống

Mặc dù hiệu quả trị liệu là có sẵn cho toxoplasmosis, tất cả các phương pháp điều trị có tác dụng phụ và có thể không bảo vệ đứa trẻ chưa sinh. Đó là lý do tại sao cách tiếp cận tốt nhất là phòng ngừa. Những biện pháp phòng ngừa có thể giúp giữ cho an toàn:

Mang bao tay khi vườn, xử lý đất. Làm vườn có thể được thư giãn, nhưng nó cũng có thể nhiễm toxoplasmosis. Mang bao tay bất cứ khi nào làm việc ngoài trời, và sau đó rửa tay kỹ bằng xà phòng và nước, đặc biệt là trước khi ăn hoặc chuẩn bị thực phẩm.

Không ăn thịt sống hoặc nấu chưa chín. Thịt, thịt cừu, thịt lợn, thịt bò, có thể nuôi dưỡng sinh vật toxoplasma. Đừng nếm thịt trước khi nó hoàn toàn chín.

Rửa dụng cụ nhà bếp triệt để. Sau khi chuẩn bị thịt sống, rửa sạch thớt, dao và đồ dùng nhà bếp khác, nước xà phòng nóng để ngăn ngừa lây nhiễm chéo trong thực phẩm khác. Rửa tay kỹ sau khi cầm thịt sống.

Rửa hoặc vỏ tất cả các loại trái cây và rau. Nếu có thể, sử dụng xà phòng để rửa rau, trái cây và rau quả, đặc biệt là nếu đang ăn chúng thô. Nếu không, chà rửa chúng một cách cẩn thận.

Không uống sữa chưa được tiệt trùng. Sữa không tiệt trùng và các sản phẩm sữa khác có thể chứa ký sinh trùng toxoplasma.

Nếu có con, hãy chắc chắn để che chỗ mèo bất cứ khi nào đang làm chơi. Mèo có thể thải ra.

Đối với những người yêu mèo

Nếu đang sống với HIV / AIDS, hoặc đang mang thai hoặc dự định có thai, có quyền được quan tâm về toxoplasmosis. Nhưng không phải từ bỏ con mèo. Dưới đây là một vài bước đơn giản mà có thể giữ cho động vật khỏe mạnh:

Trợ giúp con mèo luôn khỏe mạnh. Giữ mèo trong nhà và đóng hộp thức ăn cho mèo hoặc khô, không thịt. Mèo có thể bị nhiễm do ăn con mồi bị nhiễm bệnh hoặc thịt chưa nấu chín có chứa các ký sinh trùng.

Không chấp nhận hoặc mèo con mèo đi lạc. Mặc dù tất cả các loài động vật hoang cần nhà tốt, tốt nhất là để cho người khác chấp nhận chúng. Hầu hết những con mèo không có dấu hiệu của nhiễm toxoplasma, và mặc dù chúng có thể được thử nghiệm toxoplasmosis, nó có thể mất đến một tháng để có được kết quả.

Làm sạch rác của hộp mèo. Nếu đó không phải là có thể, luôn luôn đeo găng tay để thay đổi xả rác và sau đó rửa tay kỹ bằng xà bông và nước nóng. Thay đổi hộp rác mỗi ngày để kén hợp tử bất kỳ bài tiết không có thời gian để trở thành truyền nhiễm. Khử trùng hộp rác với nước nóng – chất khử trùng hóa học không hiệu quả đối với T. gondii – nhưng không đặt hộp trên bếp hoặc cho phép mèo vào bếp.

Nguồn Dieutri.vn

 

RUBELLA VÀ THAI KỲ

By on 26/05/2016

1. Khái niệm

Rubella (còn gọi là Sởi Đức) là một bệnh truyền nhiễm gây dịch do vi rút rubella (vi rút ARN giống Rubivirus họ Togaviridae) gây nên. Bệnh lây truyền từ người bệnh, người mang vi rút sang người lành qua đường hô hấp hoặc từ mẹ sang thai nhi.

Bệnh biểu hiện bằng sốt, phát ban, nổi hạch, thường diễn biến lành tính, nhưng có thể gây một số biến chứng như viêm não – màng não, xuất huyết giảm tiểu cầu…

Nhiễm rubella ở phụ nữ có thai, đặc biệt trong 18 tuần đầu thai kỳ, có thể gây sẩy thai, thai lưu, đẻ non và các tổn thương nặng nề cho thai nhi (hội chứng rubella bẩm sinh).

2. Dịch tễ

Bệnh xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, thường vào mùa đông xuân, có thể rải rác quanh năm. Người là ổ chứa vi rút duy nhất, khoảng 20%-50% người nhiễm vi rút không có triệu chứng. Bệnh lây truyền từ người bệnh, người mang vi rút sang người lành trong thời gian từ 1 tuần trước khi phát ban cho đến 1 tuần sau khi phát ban. Người bị nhiễm vi rút do hít phải hoặc tiếp xúc trực tiếp với các dịch tiết đường hô hấp của người bệnh, người mang vi rút. Khả năng lây truyền từ mẹ nhiễm rubella sang thai nhi rất cao trong những tháng đầu của thai kỳ. Những người chưa có miễn dịch đều có thể bị mắc bệnh. Người sau khi mắc bệnh có miễn dịch bền vững; miễn dịch của mẹ truyền cho con có thể bảo vệ trẻ trong vòng 6 đến 9 tháng sau khi sinh.

II. Chẩn đoán

1. Chẩn đoán ca bệnh lâm sàng

a) Dịch tễ:

– Có tiếp xúc với người bệnh rubella, hoặc;

– Sống hoặc đến từ vùng đang có dịch rubella.

b) Lâm sàng:

– Sốt: thường sốt nhẹ từ 1 đến 3 ngày.

– Phát ban: ban dát sẩn, mọc không theo trình tự, không để lại vết thâm sau khi bay.

– Nổi hạch nhiều nơi.

– Đau mỏi người, đau khớp.

2. Chẩn đoán xác định

Dựa vào chẩn đoán ca bệnh lâm sàng, và xét nghiệm:

– Kháng thể kháng rubella IgM (+) (ELISA). Xét nghiệm IgM có thể âm tính trong vòng 5 ngày đầu sau khi phát ban, cần tiến hành xét nghiệm lại sau 1 tuần.

hoặc

– Kháng thể kháng rubella IgG: hiệu giá kháng thể lần 2 sau 1 tuần tăng gấp 4 lần so với lần 1.

hoặc

– RT-PCR rubella (+): bệnh phẩm dịch hầu họng, máu, dịch não tủy, dịch ối.

* Cần phải làm xét nghiệm chẩn đoán cho tất cả những trường hợp rubella có biến chứng và phụ nữ có thai nghi ngờ nhiễm rubella.

3. Chẩn đoán phân biệt

a) Sởi:

– Có biểu hiện viêm long rõ.

– Ban mọc và bay theo trình tự: từ đầu, ngực tay bụng, chân, ban hồng mịn và xen kẽ với các khoảng da lành, khi mọc tới chân thì ban bay theo thứ tự như trên, để lại vết thâm (dấu hiệu vằn da hổ).

– Xét nghiệm kháng thể kháng sởi IgM (+).

b) Sốt xuất huyết:

– Sốt cao đột ngột.

– Đau đầu, đau mỏi toàn thân, đau nhức nhiều hai hốc mắt.

– Da xung huyết, ít khi có phát ban.

– Dấu hiệu xuất huyết ở dưới da, niêm mạc hoặc nội tạng.

– Xét nghiệm máu: BC giảm, TC giảm, Hct bình thường hoặc tăng.

– Xét nghiệm huyết thanh: NS1 hoặc IgM kháng dengue (+).

c) Sốt phát ban do các vi rút khác: Adenovirus, Coxackie, Chikungunia.

d) Bệnh tinh hồng nhiệt (sốt phát ban do liên cầu).

đ) Dị ứng thuốc:

– Phát ban đa dạng, ngứa nhiều.

– Có thể kèm tổn thương gan thận.

– Có tiền sử dùng thuốc trước khi có các biểu hiện trên.

4. Rubella ở một số đối tượng

a) Rubella ở phụ nữ có thai:

Biểu hiện lâm sàng cũng giống với người nhiễm rubella khác. Tỷ lệ lây nhiễm cho thai nhi: trong tháng đầu từ 81% đến 90%, tháng thứ hai từ 60% đến 70%, tháng thứ ba từ 35% đến 50%. Sau tuần thai thứ 20, tỷ lệ này giảm dần xuống còn 5% đến 15%. Hậu quả: sẩy thai, thai lưu, đẻ non hoặc dị tật đối với thai nhi.

Việc chẩn đoán nhiễm rubella ở phụ nữ mang thai rất quan trọng liên quan tới quyết định đình chỉ hay giữ thai. Cần phải làm đầy đủ các xét nghiệm chẩn đoán ở các cơ sở xét nghiệm tin cậy.

b) Rubella bẩm sinh:

– Trẻ sinh ra từ mẹ có tiền sử nhiễm rubella khi mang thai và trẻ có xét nghiệm IgM (+) với rubella.

– Hội chứng rubella bẩm sinh: với các dị dạng thai nhi thuộc 2 nhóm

+ Nhóm A: đục thủy tinh thể, glaucoma bẩm sinh, bệnh tim bẩm sinh, tổn thương thính giác, bệnh võng mạc sắc tố.

+ Nhóm B: ban tím, gan lách to, vàng da, não nhỏ, chậm phát triển, viêm não màng não, bệnh xương trong (hình ảnh X-quang).

– Việc chẩn đoán xác định trẻ sơ sinh bị nhiễm rubella căn cứ vào việc xét nghiệm kháng thể trong máu cuống rốn: khẳng định nhiễm khi tìm thấy cả IgG và IgM.

5. Biến chứng

– Viêm não – màng não: Có thể xuất hiện trong thời kỳ toàn phát hoặc sau khi đã hết sốt và ban đã bay. Các biểu hiện: chậm chạp, vô cảm, ngủ gà hoặc kích thích, rung giật nhãn cầu, liệt thần kinh sọ, co giật, cơn cơ cứng, hôn mê, rối loạn tuần hoàn và hô hấp. Dịch não tủy bình thường hoặc biến loạn kiểu viêm màng não nước trong. Có thể tử vong hoặc có di chứng về tinh thần, vận động.

– Tiểu cầu giảm nặng và kéo dài (hiếm gặp) gây xuất huyết dưới da, niêm mạc và nội tạng.

– Các biến chứng khác có thể gặp: viêm phổi, viêm khớp, viêm tinh hoàn.

III. Điều trị

1. Nguyên tắc điều trị

– Cách ly người bệnh 7 ngày kể từ khi phát ban: tại nhà hoặc tại cơ sở y tế.

– Điều trị triệu chứng và hỗ trợ, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

– Theo dõi, phát hiện và xử lý sớm các biến chứng.

2. Điều trị cụ thể

a) Rubella không biến chứng:

– Nghỉ ngơi, ăn uống đầy đủ.

– Nếu sốt cao: dùng paracetamol.

– Uống các vitamin.

b) Rubella có biến chứng:

– Viêm não:

+ Điều trị chung theo hướng dẫn do Bộ Y tế ban hành.

+ Có thể sử dụng gammaglobulin với liều 0,1- 0,4g/kg cân nặng/ngày x 3 ngày và/hoặc methylprednisolon 2mg/kg/ngày x 5-7 ngày.

+ Sử dụng kháng sinh thích hợp khi có nguy cơ bội nhiễm.

– Xuất huyết giảm tiểu cầu:

+ Truyền khối tiểu cầu khi: có biểu hiện xuất huyết và tiểu cầu < 50 G/l hoặc không có biểu hiện xuất huyết mà tiểu cầu < 20 G/l.

+ Methylprednisolon 2mg/kg/ngày nếu tiểu cầu < 20 G/l; giảm dần liều theo diễn biến bệnh và sự hồi phục của tiểu cầu.

3. Xử trí nhiễm rubella ở phụ nữ mang thai

– Phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu: tư vấn đình chỉ thai nghén khi đã có chẩn đoán xác định.

– Phụ nữ có thai từ 13 đến 18 tuần bị nhiễm rubella: tư vấn nguy cơ con bị rubella bẩm sinh, cần chọc ối để xét nghiệm chẩn đoán xác định. Tất cả các trường hợp tìm thấy rubella trong nước ối đều tư vấn đình chỉ thai, các trường hợp âm tính tiếp tục theo dõi.

– Phụ nữ có thai trên 18 tuần bị nhiễm rubella: nguy cơ con bị rubella bẩm sinh thấp, theo dõi thai kỳ bình thường.

IV. Phòng bệnh

1. Phòng bệnh chung

– Tuyên truyền sâu rộng trong cộng đồng về bệnh rubella, cách nhận biết và biện pháp phòng chống.

– Tăng cường vệ sinh cá nhân.

– Đeo khẩu trang khi tiếp xúc hoặc chăm sóc người bệnh.

– Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng.

– Tránh tối đa việc chùi tay lên mắt và mũi, miệng.

– Những người tiếp xúc gần (người sống cùng nhà, thầy thuốc trực tiếp chăm sóc, điều trị) nên vệ sinh đường mũi, họng, mắt hàng ngày bằng các dung dịch sát khuẩn thông thường.

– Hạn chế tiếp xúc với người mắc/nghi mắc bệnh, phụ nữ có thai tuyệt đối không tiếp xúc với người bệnh rubella. Khi phải tiếp xúc với người bệnh phải đeo khẩu trang y tế và trang bị phòng hộ cá nhân.

– Hạn chế tập trung đông người, hội họp, đặc biệt tại những phòng chật hẹp, ít thông khí ở khu vực ổ dịch.

– Không cho trẻ em dùng chung vật dụng cá nhân (khăn mặt, bàn chải, kính, cốc, chén, bát đũa …), đồ chơi hoặc đồ vật dễ bị ô nhiễm chất tiết mũi họng.

– Trẻ em nhiễm rubella bẩm sinh cần hạn chế tối đa tiếp xúc với phụ nữ có thai và trẻ em khác từ khi sinh ra đến khi trẻ được 1 tuổi.

2. Phòng bệnh trong bệnh viện

– Cách ly người bệnh.

– Nhân viên y tế thực hiện đầy đủ các biện pháp dự phòng chuẩn trong chăm sóc, điều trị cho người bệnh rubella.

– Khử khuẩn buồng bệnh: thường xuyên mở cửa sổ, cửa chính để ánh nắng chiếu vào và đảm bảo thông khí thoáng. Sử dụng khí Ozon hoặc chiếu đèn cực tím.

– Lau sàn nhà, nắm đấm cửa, mặt bàn, ghế, khu vệ sinh chung hoặc bề mặt của đồ vật nghi ngờ bị ô nhiễm bằng dung dịch khử trùng có chứa Clo với nồng độ 0,5% Clo hoạt tính hoặc các chất tẩy rửa thông thường từ 1 – 2 lần/ngày.

– Khử khuẩn đồ dùng, xử lý dịch tiết mũi họng của người bệnh theo quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn.

3. Phòng bệnh đặc hiệu

– Tiêm vắc xin rubella: sử dụng vắc xin dạng đơn hoặc dạng phối hợp (sởi – rubella hoặc sởi-quai bị-rubella).

+ Với trẻ em: tiêm vắc xin cho trẻ từ 9 tháng tuổi trở lên và nhắc lại khi trẻ 18 tháng tuổi.

+ Với người lớn: tiêm vắc xin cho những người chưa tiêm phòng hoặc những người chưa có miễn dịch, đặc biệt cho phụ nữ ở tuổi sinh đẻ.

– Không tiêm phòng vắc xin rubella cho phụ nữ đang mang thai.

+ Chỉ nên có thai sau khi tiêm phòng ít nhất 1 tháng.

+ Nếu phát hiện có thai sau khi tiêm phòng thì không có chỉ định đình chỉ thai.

Nguồn tham khảo